ỨNG DỤNG KĨ THUẬT KIỂM SOÁT CUỐNG GAN TRONG CẮT GAN ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN, TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
DOI:
https://doi.org/10.59459/1859-1655/JMM.895Tóm tắt
Mục tiêu: Nghiên cứu cứu ứng dụng kĩ thuật kiểm soát cuống gan (toàn bộ và chọn lọc) và đánh giá kết quả phẫu thuật sớm trong cắt gan điều trị ung thư biểu mô tế bào gan.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu kết hợp tiến cứu 50 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan, điều trị cắt gan có kiểm soát cuống gan, tại Bệnh viện Quân y 103, từ tháng 01/2023 đến tháng 3/2025.
Kết quả: Chủ yếu bệnh nhân áp dụng kĩ thuật kiểm soát chọn lọc cuống Glisson gan phải hoặc gan trái cách quãng (46,0%) và liên tục (38,0%). Có 62,0% bệnh nhân phẫu thuật cắt gan nhỏ. Thời gian phẫu thuật trung bình 195,2 ± 61,8 phút, lượng máu mất trung bình 261,6 ± 202,5 ml và thời gian nằm viện trung bình là 11,4 ± 3,7 ngày. Có 32,0% bệnh nhân gặp biến chứng sớm sau phẫu thuật, thường gặp nhất là tràn dịch màng phổi (10,0%), cổ trướng (8,0%) và nhiễm trùng vết mổ (8,0%). Truyền máu trong phẫu thuật làm tăng tỉ lệ biến chứng sau phẫu thuật (p < 0,05).
Kết luận: Áp dụng kĩ thuật kiểm soát cuống gan trong cắt gan điều trị ung thư biểu mô tế bào gan làm giảm mất máu và hiệu quả điều trị cao.
Tài liệu tham khảo
1. Global Cancer Observatory (2022), “Vietnam: Cancer fact sheets”, International Agency for Research on Cancer, WHO.
2. Makuuchi M, Mori T, Gunven P, et al. (1987), “Safety of hemihepatic vascular occlusion during resection of the liver”, Surgery gynecology & obstetrics, 164 (2): 155-158.
3. Takasaki K (2007), “Glissonean pedicle transection method for hepatic resection”, Springer, Tokyo.
4. Bộ Y tế (2020), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư biểu mô tế bào gan, Quyết định số 3129/QĐ-BYT ngày 17/7/2020.
5. Dindo D, Demartines N, Clavien P.A (2004) “Classification of surgical complications: a new proposal with evaluation in a cohort of 6336 patients and results of a survey”, Annals of Surgery, 240(2): 205-213.
6. Ninh Việt Khải ( 2019), Nghiên cứu ứng dụng kiểm soát chọn lọc cuống gan trong cắt gan theo phương pháp Tôn Thất Tùng, Luận án tiến sĩ y học, Học viện Quân y.
7. Tanaka K, Shimada H, et al. (2006), “Outcome using hemihepatic vascular occlusion versus the pringle maneuver in resections limited to one hepatic section or less”, Journal of Gastrointestinal Surgery, 10 (7): 980-6.
8. Chau G.Y, Lui W.Y, King K.L, et al. (2005), “Evaluation of effect of hemihepatic vascular occlusion and the Pringle maneuver during hepatic resection for patients with HCC and impaired liver function”, World journal of surgery, 29 (11): 1374-1383.
9. Fu S.Y, Lau W.Y, et al. (2011), “A prospective randomized controlled trial to compare Pringle maneuver, hemihepatic vascular inflow occlusion and main portal vein inflow occlusion in partial hepatectomy”, The American Journal of Surgery, 201 (1): 62-69.
10. Lê Văn Thành, Hồ Văn Linh (2023). “Kết quả cắt gan theo giải phẫu, điều trị HCC tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108”, Tạp chí Y học Việt Nam, số 529 (1B), 236-241.
11. Vũ Văn Quang ( 2019), Nghiên cứu ứng dụng kĩ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki trong cắt gan điều trị HCC tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Luận án tiến sĩ y học, Viện Nghiên cứu khoa học Y dược lâm sàng 108.
