ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT BƯỚU GIÁP THÒNG TRUNG THẤT LÀNH TÍNH
Từ khóa:
Bướu giáp thòng trung thất.Tóm tắt
Nghiên cứu đánh giá một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật bướu giáp thòng trung thất lành tính, tại Bệnh viện Chợ Rẫy, từ tháng 01/2015 đến tháng 12/2019, kết luận:- Bệnh nhân tuổi trung bình 58,5 ± 9,7 tuổi. Tỉ lệ bệnh nhân nữ/ nam ≈ 5,9/1. Thời gian tiến triển trung bình 12,1 ± 8,1 năm. Triệu chứng lâm sàng: Đa số bướu giáp thòng trung thất lành tính có triệu chứng bướu giáp ở cổ (94,5%), khó thở (38,2%), đau ngực (20,0%). Cận lâm sàng: đa số bệnh nhân siêu âm là bướu giáp đa nhân (90,9%); hình ảnh X quang khối mờ trung thất rõ (91,2%); chụp cắt lớp điện toán có vị trí bướu giáp thòng trung thất trước (54,4%), bờ bướu rõ (92,7%), độ I (49,1%), chèn ép khí quản, thực quản, tĩnh mạch chủ trên (78,2%), kích thước bứou trung bình 10,4 ± 2,6 cm, phần phần bướu thòng trung thất trung bình 5,7 ± 2,2 cm. Kết quả phẫu thuật: thời gian phẫu thuật trung bình 76,8 phút, thời gian nằm viện trung bình 5,2 ± 0,73 ngày. Kết quả phẫu thuật sớm: 87,3% có kết quả tốt, 7,3% đạt kết quả trung bình, 5,4% có kết quả xấu. Tai biến, biến chứng sau phẫu thuật: tụ dịch, chảy máu vết mổ và hạ canxi máu (đều chiếm 1,8%), khàn tiếng và suy hô hấp (đều chiếm 3,6%).
Tài liệu tham khảo
1. Lê Quang Đình (2008), Đánh giá kết quả điều trị bệnh bướu giáp thòng trung thất, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, tr. 60-81.
2. Trần Xuân Hùng (2014), Nhận xét đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và đánh giá kết quả phẫu thuật bướu giáp thòng trung thất tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội, tr. 62-89.
3. Trần Hồng Quân (2007), Nghiên cứu kết quả chẩn đoán và điều trị ngoại khoa bướu giáp cổ-trung thất, Luận văn thạc sĩ y khoa, Học viện Quân y, tr. 67-87.
4. Ali Sadrizadeh et al (2015), “Evaluations of Factors Predicting the Need for an Extra-Cervical Approach for Intra-Thoracic Goiter”, Iranian Journal of Otorhinolaryngology, 27 (6), pp. 435-451.
5. Cichon Stanisław et al (2008), “Surgical management of mediastinal goiter: risk factors for sternotomy”, Langenbecks Arch Surg, 393, pp. 751-757.
6. Gregory W Randolph, Jennifer J Shin et al (2011), “The Surgical Management of Goiter”, Laryngoscope, 121, pp. 68-76.
7. Joe Grainger et al (2005), “The surgical approach to retrosternal goiters: The role of computerized tomography”, Otolaryngology-Head and Neck Surgery, 132, pp. 849-851.
8. Laura Wang et al (2016), “Surgical Management of Goiter”, Sataloff’s Comprehensive Textbook of Otolaryngology: Head and Neck Surgery, Jaypee Brothers, pp. 313-327.
9. Luke Nankee et al (2015), “Substernal goiter: when is a sternotomy required?”, J Surg Res, 199 (1), pp. 121-125.
10. Mercante Gabrielli E, Pedroni C, Formisano D et al (2011), “CT cross-sectional imaging classification system for substernal goiter based on risk factors for an extracervical surgical approach”, Head Neck, 33, pp. 792-799.
11. Mostafa A. Sakkary et al (2012), “Retrosternal goiter: The need for thoracic approach based on CT findings: Surgeon’s view”. Journal of the Egyptian National Cancer Institute, 24, pp. 85-90.
12. Muneo Nakaya et al (2017), “Surgical treatment of substernal goiter: An analysis of 44 cases”, Auris Nasus Larynx, 44, pp. 111-115.
13. Rodriguez J.M et al (1999), “Substernal goiter: clinical experience of 72 cases”, Ann Otol Rhinol Laryngol, 108 (5), pp. 501-504.
14. Rodriguez J.M et al (1999), “Substernal goiter: clinical experience of 72 cases”, Ann Otol Rhinol Laryngol, 108 (5), pp. 501-504.
15. Sara L Richer et al (2016), “Substenal goiter”, Thyroid and Parathyroid Diseases - Surgical Management of Thyroid Diseases; David J Terris, William S Duke, Thieme, 2th edition, pp. 132-138.
