NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SỐT RÉT TẠI HAI HUYỆN ĐẮK MIL VÀ CƯ JÚT TỈNH ĐẮK NÔNG TỪ 7/2018 ĐẾN 11/2019
Từ khóa:
Sốt rét, P. falciparum, P. vivax, Đắk NôngTóm tắt
Mục tiêu: Nghiên cứu mô tả đặc điểm sốt rét tại hai huyện Đăk Mil và Cư Jút tỉnh Đắk Nông. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả có phân tích 140 bệnh nhân sốt rét tại huyện Đắk Mil và Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, từ tháng 7/2018 đến tháng 11/2019. Kết quả: Nam giới (87,9%) mắc bệnh sốt rét nhiều hơn nữ giới (12,1%). Chủ yếu bệnh nhân mắc bệnh sốt rét từ 18 tuổi trở lên (92,1%), thuộc dân tộc ít người (73,6%), có nghề nghiệp làm rẫy (84,3%), nơi lây nhiễm trên rẫy và vào rừng (chiếm 98,6%). 47,1% bệnh nhân nhiễm P. falciparum, 52,1% bệnh nhân nhiễm P. vivax, 1 bệnh nhân (0,7%) nhiễm P. falciparum + P. vivax. Hầu hết bệnh nhân có cơn sốt rét điển hình với ba triệu chứng rét run, sốt và vã mồ hôi. Nhiệt độ trung bình của bệnh nhân nhiễm P. falciparum (38,8 ± 0,9oC) và P. vivax (38,7 ± 1,0oC) gần bằng nhau. Trong đó, đa số bệnh nhân nhiễm P. falciparum và P. vivax tại thời điểm đến khám có sốt (trên 37,5oC). các triệu chứng khác đi kèm, như đau đầu, mệt mỏi, chán ăn đều chiếm trên 93%. Bệnh nhân nhiễm P. falciparum và P. vivax có mật độ kí sinh trùng sốt rét trung bình trong máu cao, lần lượt là 31.255 mật độ kí sinh trùng sốt rét/µl và 7.730 mật độ kí sinh trùng sốt rét/µl. Có sự giảm đáng kể lượng huyết sắc tố, hematocrit, số lượng tiểu cầu và tổng số bạch cầu ở BN sốt rét; các dấu hiệu sinh hóa như GOT, GPT, GGT, bilirubin toàn phần tăng.
Tài liệu tham khảo
1. Huỳnh Hồng Quang (2018), Thay đổi cơ cấu kí sinh trùng sốt rét có thể là một rào cản trong tiến trình loại trừ sốt rét hiện nay, Viện Sốt rét-Kí Sinh Trùng-Côn Trùng Quy Nhơn, http://www.impe-qn.org.vn/impe-qn/vn/portal/InfoDetail.jsp?area=58&cat=1064&ID=11261.
2. Nguyễn Doãn Khôi, Huỳnh Hồng Quang (2017), “Đánh giá đáp ứng của kí sinh trùng sốt rét với phác đồ Dihydroartemisinin-Piperaquin phosphate ở bệnh nhân sốt rét Plasmodium falciparum Chưa biến chứng tại huyện Krông Pa, Gia Lai 2016”, Tạp chí Phòng chống sốt rét và các bệnh kí sinh trùng, Số 96, tr. 384.
3. Hồ Đắc Thoàn, Nguyễn Văn Chương, Hồ Văn Hoàn, Huỳnh Hồng Quang, Nguyễn Xuân Quang (2017), “Một số đặc điểm dịch tễ sốt rét khu vực miền Trung-Tây Nguyên giai đoạn 2011-2016”, Tạp chí Y học dự phòng, số 8, Tr. 165.
4. Bùi Quang Phúc (2015), “Đánh giá hiệu lực chloroquin trên bệnh nhân sốt rét do P. vivax chưa biến chứng tại tỉnh Kon Tum và Khánh Hòa 2012”, Tạp chí Y dược học quân sự, số 5, tr. 91-97.
5. Nguyễn Thị Liên Hạnh, Huỳnh Hồng Quang (2017), “Nghiên cứu đột biến Gen K13 và tình trạng chậm sạch kí sinh trùng sau điều trị tại một số điểm miền Trung-Tây Nguyên (2014-2016)”, Tạp chí phòng chống sốt rét và các bệnh kí sinh trùng, Số 96, tr. 384.
6. Hoàng Văn Hội, Hoàng Thu Thương, Nguyễn Thị Phương Lan, Võ Hồng Ngân (2017), “Đánh giá tỉ lệ giảm tiểu cầu trên bệnh nhân sốt rét điều trị tại Bệnh viện huyện Phú Lộc, 2011-2015”, Tạp chí Phòng chống Sốt rét và các bệnh kí sinh trùng, Số 96, tr. 53.
7. Thanh P.V, Van Hong N, Van Van N, Van Malderen C, Obsomer V, Rosanas-Urgell A, Grietens K.P, Xa N.X, Bancone G, Chowwiwat N, Duong T.T (2015), “Epidemiology of forest malaria in Central Vietnam: the hidden parasite reservoir”, Malaria journal, Dec, 14 (1): 86.
8. World Health Organization (2015), Global technical strategy for malaria 2016-2030, Nov 4.
9. Thanh N.V, Thuy-Nhien N, Tuyen N.T, Tong N.T, Nha-Ca N.T, Quang H.H, Farrar J, Thwaites G, White N.J, Wolbers M, Hien T.T (2017), “Rapid decline in the susceptibility of Plasmodium falciparum to dihydroartemisinin-piperaquine in the south of Vietnam”, Malaria journal, Dec 1, 16 (1): 27.
10. Van der Pluijm R.W, Imwong M, Chau N.H, Hoa N.T, Thuy-Nhien N.T, Thanh N.V, Jittamala P, Hanboonkunupakarn B, Chutasmit K, Saelow C, Runjarern R (2019), “Determinants of dihydroartemisinin-piperaquine treatment failure in Plasmodium falciparum malaria in Cambodia, Thailand, and Vietnam: a prospective clinical, pharmacological, and genetic study”, The Lancet Infectious Diseases, Sep 1, 19 (9): 952-61.
11. Quang Bui P, Hong Huynh Q, Thanh Tran D, Thanh Le D, Quang Nguyen T, Van Truong H, Khim N, Witkowski B, Dai Tran C, Bustos M.D, Ringwald P (2019), “Pyronaridine-artesunate efficacy and safety in uncomplicated Plasmodium falciparum malaria in areas of artemisinin-resistant falciparum in Viet Nam (2017-2018)”, Clinical Infectious Diseases, Jun 28.
12. Moody A (2002), “Rapid diagnostic tests for malaria parasites”, Clinical microbiology reviews, Jan 1, 15 (1): 66-78.
13. World Health Organization. World malaria report 2019.
14. Thanh P.V, Van Hong N, Van Van N, Louisa M, Baird K, Xa N.X, Grietens K.P, Hung L.X, Duong T.T (2015), “Rosanas-Urgell A, Speybroeck N. Confirmed Plasmodium vivax resistance to chloroquine in central Vietnam”, Antimicrobial agents and chemotherapy, Dec 1, 59(12): 7411-9.
15. Taylor W.R, Widjaja H, Basri H, Tjitra E, Ohrt C, Taufik T, Baso S, Hoffman S.L, Richie T.L (2013), “Haemoglobin dynamics in Papuan and non-Papuan adults in northeast Papua, Indonesia, with acute, uncomplicated vivax or falciparum malaria”, Malaria journal, Dec 1, 12 (1): 209.
16. Godse R.R (2013), “Hematological and biochemical evaluation in malaria patients with clinical correlation”, Hemoglobin, 13 (11.94): 10-91.
17. Lacerda M.V.G, Mourao M.P.G, Coelho H.C.C, Santos J.B (2011), “Thrombocytopenia inmalaria: who cares?”, Mem Inst Oswaldo Cruz, 106 (1): 52-63.
18. Daneshvar C, Davis T.M, Cox-Singh J et al (2009), “Clinical and laboratory features ofhuman Plasmodium knowlesi infection”, Clin Infect Dis, 49 (6): 852-860.
19. Shaikh Q.H, Ahmad S.M, Abbasi A, Malik S.A, Sahito A.A, Munir S.M (2009), “Thrombocytopenia in malaria”, J Coll Physicians Surg Pak, Nov, 19 (11): 708-10.
20. Patel P, Patel M, Gmait B, Modi J, Kevadiya S, Padsala S (2013), “Thrombocytopenia in malaria: correlation with various prevalent species”, Int J Med Sci Public Health, Oct 1, 2 (4): 946-50.
21. Singh G.U, Urhekar A.D, Singh R.A, Maheshwari U.J, SAMANT P (2015), “Alteration in biochemical parameters in malaria patients. Plasmodium falciparum vs. Plasmodium vivax”, Journal of Microbiology and Antimicrobial Agents, 1 (1): 13-5.
