NGHIÊN CỨU SO SÁNH 3 PHƯƠNG PHÁP XÉT NGHIỆM PHÁT HIỆN NEISSERIA MENINGITIDIS GÂY BỆNH

Các tác giả

  • ThS. Lê Hải Yến

Từ khóa:

N. meningitidis, nhiễm não mô cầu, LAMP.

Tóm tắt

Nghiên cứu so sánh 3 phương pháp xét nghiệm phát hiện N. meningitides gây bệnh (gồm nuôi cấy, Real-time và LAMP) trên 90 mẫu bệnh phẩm thu thập từ các vụ dịch năm 2018. Kết quả:

33/90 mẫu bệnh phẩm (36,67%) dương tính với N. meningitidis bởi ít nhất một phương pháp. Trong đó, phương pháp nuôi cấy dương tính 22/90 mẫu bệnh phẩm (22,44%), phương pháp Realtime PCR dương tính 32/90 mẫu bệnh phẩm (35,56%), phương pháp LAMP phát hiện 30/90 mẫu bệnh phẩm (33,33%). Có 22/90 mẫu bệnh phẩm (22,44%) dương tính và 57/90 mẫu bệnh phẩm (63,33%) âm tính với cả 3 phương pháp. Tỉ lệ đồng thuận của 3 phương pháp xét nghiệm là 87,78%, giữa phương pháp nuôi cấy và LAMP là 91,11%; giữa Realtime PCR và nuôi cấy là 88,89%; giữa Realtime PCR và LAMP là 95,56%. Hệ số Kappa giữa hai phương pháp nuôi cấy và LAMP là 0,78; giữa Realtime PCR và nuôi cấy là 0,74; giữa Realtime PCR và LAMP là 0,9. Phương pháp LAMP và Realtime PCR cho kết quả phát hiện số trường hợp dương tính đúng cao hơn so với phương pháp nuôi cấy (29 so với 22). Độ nhạy, độ đặc hiệu phân tích, giá trị dự đoán dương tính, giá trị dự đoán âm tính lần lượt cho phương pháp nuôi cấy là 75,9%; 100%; 100%; 89,7%, phương pháp Realtime PCR là 100%; 95,1%; 90,6%; 100% và phương pháp LAMP là 100%; 98,4%; 96,7%; 100%. Phương pháp LAMP và Realtime PCR có độ nhạy phân tích cao hơn so với phương pháp nuôi cấy (100% so với 75,9%), nhưng phương pháp nuôi cấy có độ đặc hiệu phân tích cao hơn phương pháp LAMP và Realtime PCR từ 2-5%.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Thái Sơn (2011), Vi sinh vật y học (Học viện Quân y), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, tr. 214-217.

2. Nguyễn Ngọc Bảo, Phạm Thị Kim Nhung, Nguyễn Phương Liên, Đoàn Trọng Tuyên (2010), “Ứng dụng kĩ thuật PCR và multiplex PCR phát hiện Neisseria meningitidis trong các mẫu bệnh phẩm lâm sàng”, Tạp chí Y dược lâm sàng 108, tr. 35-38.

3. Nguyễn Duy Hà, Lê Hải Yến, Trịnh Sao Mai (2019), “Ứng dụng kĩ thuật LAMP chẩn đoán nhanh Neisseria meningitidis gây viêm màng não tại tuyến đơn vị”, Tạp chí Y học quân sự, 334, tr. 38-41.

4. Xavier Nassif, Jean-Luc Beretti et al (April 1994), Role of pilin and PilC in adhesion of Neisseria meningitidis to human epithelial and endothelial cells. Vol. 91, pp. 3769-3773.

5. Notomi T, Okayama H, Masubuchi H, Yonekawa T, Watanabe K, Amino N and Hase T (2000), Loop-mediated isothermal amplification of DNA, Nucleic Acids. Res, 28 (12), pp. 7.

6. James P Mc Kenna (2011), Development and clinical validation of a loop-mediated isothermal amplification method for the rapid detection of Neisseria meningitides, Diagnostic Microbiology and Infectious Disease, 69, pp. 137-144.

7. Hisatoshi Kaneko (2007), “Tolerance of loop-mediated isothermal amplification to a culture medium and biological substances”, J. Biochem. Biophys. Methods, 70, pp. 499-501.

Đã Xuất bản

28.08.2026

Cách trích dẫn

ThS. Lê Hải Yến. (2026). NGHIÊN CỨU SO SÁNH 3 PHƯƠNG PHÁP XÉT NGHIỆM PHÁT HIỆN NEISSERIA MENINGITIDIS GÂY BỆNH. Tạp Chí Y học Quân sự, (337), 7–11. Truy vấn từ https://yhqs.vn/tcyhqs/article/view/1444

Số

Chuyên mục

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
 Ngày xuất bản      28-08-2026

Các bài báo tương tự

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 > >> 

Bạn cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.