HIỆU QUẢ ÁP DỤNG BỘ DỤNG CỤ CT1-C6 HỖ TRỢ TẬP LUYỆN VÀ THÍCH NGHI TRONG ĂN UỐNG CHO NGƯỜI BỆNH LIỆT NỬA NGƯỜI SAU ĐỘT QUỴ NÃO

Các tác giả

  • Vũ Thị Kim Oanh Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Phùng Quỳnh Anh Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Lê Thị Tuyến Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Dương Thị Kiều Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Phan Thị Lâm Oanh Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Nguyễn Thị Phương Chi BVTWQD108

DOI:

https://doi.org/10.59459/1859-1655/JMM.1002

Từ khóa:

Đột quỵ não, dụng cụ thích nghi, sự hài lòng

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả áp dụng bộ dụng cụ hỗ trợ tập luyện và thích nghi trong ăn uống CT1-C6 cho người bệnh liệt nửa người sau đột quỵ não.

Đối tượng và phương pháp: Can thiệp tiến cứu, theo dõi dọc, so sánh trước và sau can thiệp trên 32 người bệnh đột quỵ não, liệt tay thuận, có chỉ định sử dụng bộ dụng cụ trợ giúp và thích nghi ăn uống CT1-C6, tại Khoa Phục hồi chức năng, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, từ tháng 02-5/2024. Đánh giá cải thiện chức năng chi trên bằng thang điểm ARAT; mức độ độc lập trong chăm sóc hàng ngày theo thang điểm FIM-6 mục tự chăm sóc; mức độ độc lập chức năng tổng thể theo thang điểm Barthel; mức độ hài lòng theo thang điểm Likert 7.

Kết quả: Nhu cầu sử dụng đũa 90,62%, thìa 53,13%, dĩa 21,87% và cốc 3,12%. Điểm ARAT, FIM-6 mục tự chăm sóc và Barthel tăng có ý nghĩa so với trước can thiệp, lần lượt là 9,16 ± 3,51 điểm; 16,53 ± 6,01 điểm và 31,72 ± 15,22 điểm (p < 0,001). Sau can thiệp, mức độ độc lập của người bệnh tăng 25,0%, cần chăm sóc một phần là 65,63%; mức độ hài lòng trung bình của người người bệnh là 6,91 ± 0,29 điểm, của người chăm sóc là 6,97 ± 0,18 điểm.

Kết luận: Bộ dụng cụ hỗ trợ tập luyện và thích nghi trong ăn uống giúp người bệnh tăng khả năng độc lập trong sinh hoạt hằng ngày, giảm áp lực phụ thuộc của người bệnh, giảm áp lực cho người chăm sóc. 

Tài liệu tham khảo

1. Võ Hoàng Nghĩa, Cao Minh Châu, Lã Ngọc Quang, “Nhu cầu chăm sóc PHCN và một số yếu tố liên quan đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày NB ĐQN khi xuất viện tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2020, Tạp chí Y dược lâm sàng 108, 16 (1). https://doi.org/10.52389/ydls.v16i1.704, 2021.

2. Kwakkel G, Kollen B.J, van der Grond J, Prevo A.J, “Probability of regaining dexterity in the flaccid upper limb: impact of severity of paresis and time since onset in acute stroke” Stroke, 34 (9): pp. 2181-6, 2003.

3. Van Ommeren A.L, Smulders L.C, Prange-Lasonder G.B et al., “Assistive Technology for the Upper Extremities After Stroke: Systematic Review of Users' needs” JMIR Rehabil Assist Technol, 5 (2): e10510, doi: 10.2196/10510. PMID: 30497993; PMCID: PMC6293243, 2018.

4. Farzana Ashfaq, Nabila Soomro, Zubia Saleem et al., “Efficacy of Adaptive Devices for Improving ADL’s and Quality of Life in Patients with Multiple Conditions”, International Journal of Research and Innovation in Social Science (IJRISS); III (XI): 405-408, 2019.

5. Nelles G, Jentzen W, Jueptner M, et al., “Arm training induced brain plasticity in stroke studied with serial positron emission tomography”, Neuroimage, 13 (6): pp. 1146-54. doi:10.1006 /nimg.2001.0757. PMID:11352620, 2001.

6. Kasprzyk P, Kruk P, “Improvement of eating activity by patients after ischemic stroke - use of adaptation in occupational therapy”, Medical Rehabilitation; 24 (3): pp. 4-8. https://doi.org /10.5604/01.3001.0014.5064, 2020.

Tải xuống

Đã Xuất bản

14.04.2026

Cách trích dẫn

Vũ Thị Kim Oanh, Phùng Quỳnh Anh, Lê Thị Tuyến, Dương Thị Kiều, Phan Thị Lâm Oanh, & Nguyễn Thị Phương Chi. (2026). HIỆU QUẢ ÁP DỤNG BỘ DỤNG CỤ CT1-C6 HỖ TRỢ TẬP LUYỆN VÀ THÍCH NGHI TRONG ĂN UỐNG CHO NGƯỜI BỆNH LIỆT NỬA NGƯỜI SAU ĐỘT QUỴ NÃO. Tạp Chí Y học Quân sự, (383), 115–119. https://doi.org/10.59459/1859-1655/JMM.1002
 Ngày nhận bài      23-01-2026
 Chấp nhận đăng  12-03-2026
 Ngày xuất bản      14-04-2026

Các bài báo được đọc nhiều nhất của cùng tác giả

Các bài báo tương tự

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 > >> 

Bạn cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.