KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG KHÔ MẮT VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT PHACO TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
DOI:
https://doi.org/10.59459/1859-1655/JMM.1068Từ khóa:
Khô mắt, phẫu thuật Phaco, yếu tố ảnh hưởngTóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ khô mắt và một số yếu tố liên quan đến khô mắt sau phẫu thuật Phaco tại Bệnh viện Quân y 103.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang 150 mắt (117 người bệnh) đục thủy tinh thể, điều trị phẫu thuật Phaco IOL tại Bệnh viện Quân y 103. Đánh giá DEQ-5, Schirmer, TBUT, bắt màu giác mạc, các biến đổi của phim nước mắt, tỉ lệ khô mắt theo tiêu chuẩn ADES ở thời điểm sau phẫu thuật 1 tuần, 1 tháng và 3 tháng; các yếu tố nguy cơ liên quan đến khô mắt sau phẫu thuật.
Kết quả: Sau phẫu thuật 1 tuần, điểm DEQ-5 tăng từ 2,18 ± 1,11 lên 7,07 ± 4,06 (p < 0,001), test Schirmer và TBUT giảm xuống còn 8,1 ± 2,5 mm và 7,4 ± 1,1 giây (p < 0,001). Sau phẫu thuật 1 tuần: 8/13 mắt vỡ dạng gợn sóng, 4/13 mắt vỡ dạng đường và 1 mắt vỡ dạng đốm; vị trí vỡ chủ yếu ở ngay gần và phía dưới mép vết mổ. Sau phẫu thuật 1 tháng: 5 mắt có TBUT < 5 giây, trong đó, 4 mắt vỡ dạng đường và 1 mắt vỡ dạng đốm. Tỉ lệ khô mắt theo ADES là 8,7% và theo DEWS II là 42,7%. Sau 1 tháng, các chỉ số cải thiện dần, đến 3 tháng trở về gần mức ban đầu. Yếu tố ảnh hưởng gồm viêm bờ mi (p < 0,05), phản ứng viêm sau mổ (p < 0,001) và thời gian mổ dài.
Kết luận: Khô mắt sau phẫu thuật Phaco thường xuất hiện sớm, có tính chất tạm thời và cải thiện sau 3 tháng. Viêm bờ mi, phản ứng viêm sau mổ và thời gian phẫu thuật kéo dài là các yếu tố nguy cơ quan trọng cần được lưu ý trong dự phòng và điều trị.
Tài liệu tham khảo
1. J.P. Craig, K.K. Nichols, E.K. Akpek, et al., “TFOS DEWS II Definition and Classification Report”, Ocul Surf, 15 (3), tr.276-283, 2017.
2. Wolffsohn J.S., Benítez-Del-Castillo J., Loya-Garcia D., et al., “TFOS DEWS III Diagnostic Methodology”, Am J Ophthalmol, 279, + pp. 387-450, doi:10.1016/j.ajo.2025.05.033, 2025.
3. Sutu C., Fukuoka H., Afshari N., “Mechanisms and management of dry eye in cataract surgery patients”, Curr Opin Ophthalmol; 27(1): pp. 24-30. 2016.
4. Ta H., McCann P., XiaoM. et al., “Dry eye post-cataract surgery: a systematic review and meta-analysis”, BMC Ophthalmology, 25:p.18, 2025.
5. Trần Anh Tuấn, Huỳnh Phúc Hoàng, “Khảo sát sự mất ổn định của phim nước mắt ở bệnh nhân sau PT Phaco”, Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch, 2 (2): tr. 110-119, 2023.
6. Trần Nguyễn Trà My, Dương Anh Quân, Trần Thị Thu Đông và CS, “Nghiên cứu tình trạng KM sau PT phaco và một số yếu tố liên quan”, Tạp chí Y Dược Huế, 15(5), tr. 51-56, doi: 10.34071/jmp.2025.5.7.
7. Miura M., Inomata T. et al., “Prevalence and Characteristics of Dry Eye Disease After Cataract Surgery: A Systematic Review and Meta-Analysis”, Ophthalmol Ther, 11: pp.1309-1332, 2022.
8. Tangpagasit, Wimolwan, Srivanich et al., “Ocular surface analysis of dry eye disease after cataract surgery”, Cornea Open, 3 (1): e39, 2024.
9. Yokoi N. và CS. TFOD và TFOT chẩn đoán và điều trị KM dựa vào phim nước mắt: Sự thay đổi trong khám và điều trị KM, Tài liệu dành cho Bác sĩ chuyên khoa, Nhà xuất bản Y học (Biên dịch: Phạm Ngọc Đông và CS), 2020.
10. Tsubota K, Yokoi N, Shimazaki J, et al., “New perspectives on dry eye definition and diagnosis: a consensus report by the Asia Dry Eye Society”, Ocul Surf, 15 (1): pp. 65-76, 2017.
Tải xuống
Đã Xuất bản
Cách trích dẫn
Số
Chuyên mục
Ngày xuất bản 30-06-2026
