MỘT SỐ TÁC NHÂN VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ VIÊM NHIỄM ĐƯỜNG SINH DỤC DƯỚI CỦA NỮ QUÂN NHÂN TẠI MỘT SỐ ĐƠN VỊ TRONG QUÂN ĐỘI

Các tác giả

  • BSCKII. Ngô Thị Đức Hạnh

Từ khóa:

Đường sinh dục dưới, viêm âm đạo, viêm cổ tử cung.

Tóm tắt

Nghiên cứu hồi cứu kết hợp mô tả cắt ngang 400 nữ quân nhân đang lao động trong một số nhà máy thuộc Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kĩ thuật, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng. Kết quả:

- Đa số nữ quân nhân trong độ tuổi từ 30-49 tuổi (76,0%), làm việc trong nhà (64,5%) và có trình độ phổ phổ thông trung học trở lên (50,8%), tác nhân gây viêm nhiễm đường sinh dục dưới do trực khuẩn Gram âm (33,8%), vi khuẩn khác (30,0%) và nấm Candida (22,0%).

- Nữ quân nhân nhiễm 2 tác nhân gây viêm nhiễm đường sinh dục dưới chiếm 10-15%, nhiễm 3 tác nhân chiếm 6% và nhiễm 4 tác nhân chiếm 2%.

- Nữ quân nhân có trình độ văn hóa tiểu học, làm việc ngoài trời có nguy cơ mắc các viêm nhiễm đường sinh dục dưới cao hơn từ 1,6-1,7 lần so với nữ quân nhân có trình độ văn hóa trung học trở nên, làm việc trong nhà. Nữ quân nhân sử dụng nước không sạch, không được hướng dẫn vệ sinh trong kì kinh nguyệt, thay băng vệ sinh khi hành kinh dưới 3 lần/ngày, không vệ sinh ngay sau giao hợp, phơi quần lót ở những nới ít có ánh sáng có tỉ lệ viêm nhiễm đường sinh dục dưới cao hơn từ 1,5-2,2 lần so với những nữ quân nhân sử dụng nước sạch, được hướng dẫn vệ sinh trong kì kinh nguyệt, thay băng vệ sinh khi hành kinh ≥ 3 lần/ngày, có vệ sinh sau giao hợp, phơi quần lót ở những có ánh sáng. Khác biệt có ý nghĩa thống kê, p < 0,05.

Tài liệu tham khảo

1. Phạm Văn Hiển (1998), “Cách thức lây truyền và biện pháp phòng chống bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục, tình hình bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục - những khó khăn, giải pháp và khuyến cáo”, Nội san Da liễu, tr. 1-11.

2. Phạm Văn Hiển (2005), Giám sát các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục gắn kết với giám sát trọng điểm HIV tại 5 tỉnh của Việt Nam: Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.

3. Nguyễn Duy Ánh (2010), Nghiên cứu viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ độ tuổi 18-49 đã có chồng, tại quận Cầu Giấy và huyện Đông Anh thuộc thành phố Hà Nội giai đoạn 2005-2006, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.

4. Koumans E.H, Sternberg M, Bruce C et al (2007), “The prevalence of bacterial vaginosis in the United States, 2001-2004; associations with symptoms, sexual behaviors, and reproductive health”, Sex Transm Dis, 34 (11), pp. 864-869.

5. Kenyon C, Colebunders R, Crucitti T (2013), “The global epidemiology of bacterial vaginosis: a systematic review”, Am J Obstet Gynecol, 209 (6), pp. 505-523.

6. Koumans E.H, Markowitz L.E, Hogan V, CDC BV Working Group (2002), “Indications for therapy and treatment recommendations for bacterial vaginosis in nonpregnant and pregnant women: a synthesis of data”, Clin Infect Dis, 35 (suppl 2), pp. S152-S172

7. Armed Forces Health Surveillance Center (2013), “Sexually transmitted infections, active component, U.S. Armed Forces, 2000−2012,” MSMR, 20 (2), pp. 5-10.

8. Allsworth J.E, Peipert J.F (2011), “Severity of bacterial vaginosis and the risk of sexually transmitted infection”, Am J Obstet Gynecol, 205 (2) (2011), p. 113.

9. Christian T Bautista, Eyako K Wurapa et al (2017), “Association of Bacterial Vaginosis With Chlamydia and Gonorrhea Among Women in the U.S Army”, American Journal of Preventive Medicine, Volume 52, Issue 5, p. 632-639.

Đã Xuất bản

17.08.2026

Cách trích dẫn

BSCKII. Ngô Thị Đức Hạnh. (2026). MỘT SỐ TÁC NHÂN VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ VIÊM NHIỄM ĐƯỜNG SINH DỤC DƯỚI CỦA NỮ QUÂN NHÂN TẠI MỘT SỐ ĐƠN VỊ TRONG QUÂN ĐỘI. Tạp Chí Y học Quân sự, (343), 52–56. Truy vấn từ https://yhqs.vn/tcyhqs/article/view/1284

Số

Chuyên mục

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
 Ngày xuất bản      17-08-2026

Các bài báo tương tự

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 > >> 

Bạn cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.