ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CHẢY MÁU Ổ LOÉT DẠ DÀY - TÁ TRÀNG BẰNG TIÊM DUNG DỊCH ADRENALIN 0,01% QUA NỘI SOI, TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 354
Từ khóa:
Loét dạ dày - tá tràng, cầm máu qua nội soi, Adrenalin 0,01%.Tóm tắt
Nghiên cứu 108 bệnh nhân chảy máu ổ loét dạ dày - tá tràng có chỉ định và được tiêm cầm máu qua nội soi bằng dung dịch Adrenalin 0,01%, tại Bệnh viện Quân y 354. Kết luận:
- Bệnh nhân chảy máu ổ loét dạ dày - tá tràng thường gặp là nam giới (71,3%), ở lứa tuổi từ 31-50 tuổi (44,3%). Ổ loét có thể ở các vị trí: hành tá tràng (50,0%), hang vị dạ dày (17,5%), bờ cong nhỏ dạ dày (16,6%), thân vị dạ dày (8,3%), tâm vị dạ dày (4,6%), miệng nối dạ dày - ruột (2,7%); với mức độ chảy máu (theo Forest) độ IA (8,3%), độ IB (56,4%), độ IIA (21,2%), độ IIB (13,8%).
- Tỉ lệ cầm máu thành công sau 1 lần tiêm là 91,7%, thành công sau 2 lần tiêm là 5,5%, thành công sau 3 lần tiêm là 0,9%, thất bại là 1,9%. Kết quả chung, tỉ lệ kĩ thuật đạt tốt 91,7%; trung bình 5,5%; kém 2,8%; thất bại phải chuyển phẫu thuật ,8%. Không bệnh nhân nào gặp tai biến kĩ thuật hoặc tác dụng không mong muốn của dung dịch Adrenalin 0,01%.
Tài liệu tham khảo
1. Tạ Long (1991), “Một vài nhận xét qua 311 cas chảy máu DDTT”, Tạp chí Y học Quân sự, số tháng 1/1991, tr. 130-132.
2. Hoàng Gia Lợi (1992), “Xuất huyết tiêu hóa”, trong Bệnh học nội khoa sau đại học, Học viện Quân y, 1992, tr. 142-152.
3. Võ Xuân Quang (2006), Tiêm cầm máu qua nội soi (Tài liệu lưu hành nội bộ của Khoa Nội soi - Bệnh viện Chợ Rẫy).
4. Nguyễn Thị Quỹ (1996), Chẩn đoán và xử trí cấp cứu tiêu hóa trên qua nội soi, Hội thảo ứng dụng nội soi trong chẩn đoán và điều trị bệnh tiêu hóa toàn quốc, 5/1996.
5. Trần Việt Tú (2003), “Nhận xét hiệu quả các dung dịch tiêm cầm máu trong chảy máu tiêu hóa do loét DDTT qua nội soi”, Kỉ yếu các công trình nghiên cứu khoa học, Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y.
6. Phạm Thiệp, Vũ Ngọc Thúy (2000), Thuốc biệt dược và cách sử dụng, Nhà Xuất bản Khoa học và kĩ thuật, tr. 205.
7. Đỗ Sơn Hà (2015), “Chảy máu do loét DDTT”, Bài giảng chuyên ngành ngoại bụng, Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y.
