KHẢO SÁT ĐIỂM GERD-Q VÀ ĐỐI CHIẾU VỚI HÌNH ẢNH NỘI SOI Ở BỆNH NHÂN TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY - THỰC QUẢN TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 17

Các tác giả

  • Nguyễn Cẩm Anh Bệnh viện Quân y 17
  • Nguyễn Văn Thắng Bệnh Viện Quân Y 17

DOI:

https://doi.org/10.59459/1859-1655/JMM.865

Từ khóa:

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản, thang điểm Gerd-Q

Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát điểm GERD-Q và đối chiếu với kết quả nội soi ở bệnh nhân trào ngược dạ dày - thực quản.

Đối tượng và phương pháp: Hồi cứu mô tả cắt ngang 72 bệnh nhân trào ngược dạ dày - thực quản, thực hiện nội soi đường tiêu hóa trên từ tháng 3/2024-10/2024 tại Bệnh viện Quân y 17. Chẩn đoán trào ngược dạ dày - thực quản theo ICD-10. Đánh giá nội soi theo thang điểm Los Angeles.

Kết quả: Điểm GERD-Q trung bình ở 72 bệnh nhân nghiên cứu là 8,5 ± 1,87 điểm. Tỉ lệ bệnh nhânđiểm GERD-Q ≥ 8 điểm là 72,2%. Tỉ lệ nam giới có điểm GERD-Q ≥ 8 điểm (44,2%) thấp hơn so với nữ giới (55,8%), khác biệt với p < 0,05. Tỉ lệ bệnh nhân có điểm GERD-Q ≥ 8 ở các nhóm tuổi từ 40-60 tuổi, dưới 40 tuổitrên 60 tuổi lần lượt là 57,7%; 30,8% và 11,5%. Hình ảnh tổn thương trên nội soi mức độ A là 25,0%, mức độ B là 6,9%. T lệ có hình ảnh viêm thực quản do trào ngược trên nội soi ở nhóm điểm GERD-Q ≥ 8 điểm (42,3%) cao hơn so với nhóm GERD-Q < 8 điểm (5,0%).

Kết luận: Có mối liên quan giữa tổn thương viêm thực quản trên nội soi với điểm GERD-Q ở các bệnh nhân trào ngược dạ dày - thực quản. Nên cân nhắc mở rộng chỉ định nội soi sớm ở các bệnh nhân có triệu chứng trào ngược dạ dày - thực quản và có điểm GERD-Q cao.

Tài liệu tham khảo

1. Nirwan J.S, Hasan S.S, Babar Z.U.D, et al. (2020), “Global Prevalence and Risk Factors of Gastro-oesophageal Reflux Disease (GORD): Systematic Review with Meta-analysis”, Sci Rep, 2020; 10(1): 1-14.

2. Marques de Sa I, Marcos P, Sharma P, Dinis-Ribeiro M (2020), “The global prevalence of Barrett’s esophagus: A systematic review of the published literature”, United European Gastroenterol Journal, 2020; 8(9): 1086-1105.

3. Dent J, et al. (2005), “Epidemiology of gastro-oesophageal reflux disease: a systematic review”, Gut, 2005. 54(5): p. 710-7.

4. Jones R, et al. (2009), “Development of the GerdQ, a tool for the diagnosis and management of gastro-oesophageal reflux disease in primary care”, Aliment Pharmacol Ther, 2009. 30(10): p. 1030-8.

5. Lundell L.R, et al. (1999), “Endoscopic assessment of oesophagitis: clinical and functional correlates and further validation of the Los Angeles classification”, Gut, 1999. 45(2): p. 172-80.

6. Lê Văn Dũng (2001), Nhận xét hình ảnh nội soi - mô bệnh học thực quản ở những bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng trào ngược dạ dày-thực quản, Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2001.

7. Vĩnh Khánh và cộng sự (2025), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, thang điểm GERD-Q và hình ảnh nội soi ở bệnh trào ngược dạ dày thực quản”, Tạp chí Y dược Huế, số 7, tập 14/2025, tr. 200-205.

8. Kim S.W Lee, S.I Cho, et al. (2008), “The prevalence of and risk factors for erosive oesophagitis and non-erosive reflux disease: a nationwide multicentre prospective study in Korea”, Alimentery pharmacology Therapeatic, 2008 Jan 15; 27 (2): pp. 173-85. doi: 10.1111/j.1365-2036.2007.03561.x. Epub 2007 Oct 25. PMID: 17973646.

9. Dương Minh Thắng (2001), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi, mô bệnh học của bệnh trào ngược dạ dày thực quản, Luận văn thạc sĩ y học, Học viện Quân y, 2001.

10. Vũ Kim Ngọc (2014), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi của bệnh nhân trào ngược dạ dày thực quản ở người cao tuổi, Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2014.

11. Quách Trọng Đức (2012), “Giá trị bộ câu hỏi GERD-Q trong chẩn đoán các trường hợp bệnh trào ngược dạ dày thực quản có hội chứng thực quản”, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, tập 16, phụ bản Số 1, 2012.

12. Zavala-Gonzales M.A, et al. (2014), “Validation and diagnostic usefulness of gastroesophageal reflux disease questionnaire in a primary care level in Mexico”, J Neuro-gastroenterol Motil, 2014, 20 (4): p. 475-82.

13. Wang M, et al. (2017), “Relevance between GERDQ score and the severity of reflux esophagitis in Uygur and Han Chinese”, Oncotarget, 2017, 8 (43): p. 74371-74377.

14. Đào Việt Hằng, Đào Văn Long (2021), “Đặc điểm mô bệnh học, giá trị đo điện thế niêm mạc thực quản và kết quả nội soi ở bệnh nhân có triệu chứng trào ngược dạ dày thực quản”, Tạp chí Y học Việt Nam, 2021; 503 (2), 114-117.

Đã Xuất bản

07.01.2026

Cách trích dẫn

Nguyễn Cẩm Anh, & Nguyễn Văn Thắng. (2026). KHẢO SÁT ĐIỂM GERD-Q VÀ ĐỐI CHIẾU VỚI HÌNH ẢNH NỘI SOI Ở BỆNH NHÂN TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY - THỰC QUẢN TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 17. Tạp Chí Y học Quân sự, (364). https://doi.org/10.59459/1859-1655/JMM.865

Số

Chuyên mục

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
 Ngày nhận bài      12-09-2025

Các bài báo tương tự

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 > >> 

Bạn cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.