TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG Ở 58 BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN TÍNH LỌC MÁU CHU KÌ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 17
DOI:
https://doi.org/10.59459/1859-1655/JMM.854Từ khóa:
Suy dinh dưỡng, bệnh thận mạn, SGA-DMSTóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá thực trạng dinh dưỡng và khảo sát mối liên quan giữa tỉ lệ suy dinh dưỡng với một số đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính lọc máu chu kì.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 58 bệnh nhân bệnh thận mạn tính, điều trị lọc máu chu kì tại Khoa Nội Thận - Lọc máu, Bệnh viện Quân y 17, từ tháng 4/2023 đến tháng 9/2023. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo thang điểm SGA-DMS; BMI và nồng độ albumin huyết thanh.
Kết quả: Tỉ lệ suy dinh dưỡng đánh giá theo thang điểm SGA-DMS, BMI và nồng độ albumin huyết thanh ở bệnh nhân nghiên cứu lần lượt là 77,6%, 34,5% và 17,2%. Theo thang điểm SGA-DMS, tỉ lệ bệnh nhân suy dinh dưỡng nhẹ và trung bình là 63,8%; suy dinh dưỡng nặng là 13,8%. Nhóm bệnh nhân nghiên cứu có nồng độ trung bình albumin huyết thanh là 37,7 ± 3,8 g/L, BMI trung bình là 19,4 ± 2,6 kg/m2 và điểm SGA-DMS trung bình là 14,9 ± 4,9 điểm. Có mối liên quan về tình trạng suy dinh dưỡng (thang điểm SGA-DMS) với giới tính và thời gian lọc máu chu kì trên các bệnh nhân bệnh thận mạn tính, khác biệt có ý nghĩa thống kê, với p < 0,05.
Kết luận: Suy dinh dưỡng là tình trạng thường gặp ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính lọc máu chu kì. Cần có giải pháp đánh giá, sàng lọc và can thiệp dinh dưỡng phù hợp để giảm nguy cơ suy dinh dưỡng cho bệnh nhân lọc máu chu kì lâu năm.
Tài liệu tham khảo
1. Bikbov B, Purcell C.A, Levey A.S et al. (2020), “Global, regional, and national burden of chronic kidney disease, 1990–2017: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2017”, The Lancet, 395 (10225), 709-733.
2. Kalantar - Zadeh K, Kleiner M, Dunne E et al. (1999), “A modified quantitative subjective global assessment of nutrition for dialysis patients”, Nephrol Dial Transplant, 14 (7), 1732-1738.
3. International society of nephrology, (2013), “KDIGO 2012 Clinical Practice Guideline for the Evaluation and Management of Chronic Kidney Disease”, Kidney International Supplements, 3, pp. 1-40
4. Hakim R.M, Levin N (1993), “Malnutrition in hemodialysis patients”, American journal of kidney diseases, 21 (2): 125-137.
5. Châu Thị Thảo Nguyên, Bùi Thị Hương Quỳnh, Nguyễn Bách (2022), “Tỉ lệ suy dinh dưỡng và khẩu phần ăn của bệnh nhân bệnh thận mạn lọc máu chu kì tại bệnh viện Thống Nhất”, Tạp chí Y học Việt Nam, tập 515, tháng 6, số 1-2022, tr. 342-346.
6. Lưu Xuân Ninh, Nguyễn Quang Dũng, Phan Thạch Khuê (2021), “Tình trạng dinh dưỡng bệnh nhân bệnh thận mạn lọc máu chu kì tại bệnh viện đa khoa Lâm Đồng năm 2020-2021”, Tạp chí Dinh dưỡng - thực phẩm, tập 17, số 2, 2021, tr. 18-26.
7. Nguyễn An Giang, Lê Việt Thắng, Võ Quang Huy (2013), “Khảo sát tình trạng dinh dưỡng bệnh nhân suy thận mạn tính lọc máu chu kì bằng thang điểm đánh giá toàn diện”, Tạp chí Y học thực hành, (870) số 5, 159-161.
8. K AlSaran, S Elsayed, A Molhem, et al. (2011), “Nutritional assessment of patients on hemodialysis in a large dialysis center”, Saudi J Kidney Dis Transpl, 22 (4), 675-681.
9. Sanzia Francisca Ferraz (2014), “Nutritional status and interdialytic weight gain of chronic hemodialysis patients”, Nutritional status and interdialytic weight gain, pp.1-25.
10. Võ Thanh Hùng (2020), Nghiên cứu tình trạng suy dinh dưỡng và nồng độ Leptin huyết thanh ở bệnh nhân bệnh thận mạn đang lọc máu chu kì và lọc màng bụng liên tục ngoại trú, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Y dược Huế, tr. 78-92.
