ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG VÀ KẾT QUẢ XỬ TRÍ CHẤN THƯƠNG GÃY XƯƠNG HÀM MẶT TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 354

Các tác giả

  • BSCKII. Ngô Văn Viện

Từ khóa:

Gãy xương hàm mặt, xương hàm dưới, xương hàm trên, gò má - cung tiếp.

Tóm tắt

Nghiên cứu hồi cứu, kết hợp tiến cứu 215 bệnh nhân chấn thương hàm mặt, điều trị nội trú tại Khoa Răng hàm mặt, Bệnh viện Quân y 354, từ tháng 11/2015 đến tháng 11/2018. Kết quả: Tỉ lệ bệnh nhân nam/nữ = 7,3, trong đó bệnh nhân từ 18-39 tuổi chiếm 60,0%. Chủ yếu chấn thương gãy xương hàm mặt do tai nạn giao thông (76,75%), gãy xương hàm mặt đơn thuần (94,89%), gãy xương từ 2 đường trở lên (86,98%). 40 bệnh nhân (18,6%) có chấn thương kết hợp, trong đó hay gặp nhất là chấn thương sọ não (8,37%). 56,46% bệnh nhân gãy xương hàm dưới vùng cằm, 81,82% bệnh nhân gãy xương hàm trên toàn bộ kiểu Lefort I, II, III; 64,79% bệnh nhân gãy cung tiếp - ổ mắt di lệch. 1,86% bệnh nhân điều trị bảo tồn, 97,67% bệnh nhân phẫu thuật kết hợp xương. 210 bệnh nhân (97,68%) đạt kết quả tốt, 3 bệnh nhân (1,39%) đạt kết quả khá, 2 bệnh nhân (0,93%) đạt kết quả kém. Biến chứng sau điều trị: nhiễm trùng vết mổ, tê bì mất cảm giác, mặt không cân đối, hạn chế vận động khớp (đều có 1 bệnh nhân, chiếm 0,47%), khớp cắn lệch (2 bệnh nhân, chiếm 0,94%).

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Bắc Hùng (2000), Chấn thương vùng hàm mặt, Bài giảng Phẫu Thuật tạo hình, Bộ môn Phẫu Thuật tạo hình, Trường Đại học Y Hà Nội.

2. Nguyễn Tấn Phong (2001), Phẫu thuật điều trị chấn thương sọ mặt, Nhà xuất bản Y học Hà Nội.

3. Trần Huy Hải (1998), Chấn thương hàm mặt do va đập, Bài giảng tập huấn Phẫu Thuật hàm mặt-tạo hình toàn quân năm 1998, tr. 47-66.

4. Trần Văn Trường, Trương Mạnh Dũng (1999), “Tình hình chấn thương hàm mặt tại Viện Răng hàm mặt Hà Nội trong 11 năm, 1988-1999”, Tạp chí Y học Việt Nam, số 10, 11, tr. 71-80.

5. Trịnh Hồng Mỹ, Nguyễn Bắc Hùng (2004), “Tình hình chấn thương hàm mặt do tai nạn giao thông được điều trị tại Khoa Răng hàm mặt, Bệnh viện Bạch Mai trong hai năm 2002-2003”, Hội nghị Khoa học chuyên ngành Răng hàm hặt và tạo hình toàn quân, Tạp chí Y học Việt Nam số đặc biệt, tháng 10/2004, tr. 47-55.

6. Võ Thế Quang (1973), Phẫu thuật miệng và hàm mặt, tập 1, bản dịch - Ginextes, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr. 194- 267.

7. Astrid WILK, Christophe MEYER (2005), Traumatologie faciale, Chirurgie Maxillo-faciale et chirurgie plastique Reconstructrice, Faculté de Médecine Strasbourg, Module 12B-Appareil Loco-Moteur, pp. 2-10.

8. Bobby R Alfood (2005), Facial fractures, Emergencies in Otolaryngology-Head and Neck Surgery, Department of Otorhinolaryngology and Communicative Sciences, Baylor College of Medicine.

9. Daniel BANDONA, FOIS M (1991), “Donnes épidémiologiques des traumatismes maxillo-faciaux de l’adolescent. Traumatologie bucco - dentaire chez l’enfant et l’adolescent”, Marseille, XXIIIèmes journées, pp. 179-191.

10. Jose E Barrera, Stephen G Batuello (2005), “Fractures, Mandibule, Angle”, Medicine World Medical Library, Last Updated: May 27.

11. Kerim Ortakoglu (2004), An analysis of maxillofacial fractures: a 5 year survey of 157 patients, Military Medicine, Vol 169, pp. 723-727.

12. Michael L Richardson (2001), Facial and mandibular fractures, Approaches to differential diagnosis in musculoskeletal imaging, School of Medicine, University of Washington, pp. 252-9.

Đã Xuất bản

28.08.2026

Cách trích dẫn

BSCKII. Ngô Văn Viện. (2026). ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG VÀ KẾT QUẢ XỬ TRÍ CHẤN THƯƠNG GÃY XƯƠNG HÀM MẶT TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 354. Tạp Chí Y học Quân sự, (336), 84–88. Truy vấn từ https://yhqs.vn/tcyhqs/article/view/1431
 Ngày xuất bản      28-08-2026

Các bài báo tương tự

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 > >> 

Bạn cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.