NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, X QUANG GÃY KẾT HỢP XƯƠNG HÀM TRÊN VÀ XƯƠNG HÀM DƯỚI TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103

Các tác giả

  • TS. Lê Mạnh Cường

Từ khóa:

Gãy kết hợp xương hàm trên và xương hàm dưới

Tóm tắt

Mục tiêu: Nhận xét đặc điểm lâm sàng, X quang gãy kết hợp xương hàm trên và xương hàm dưới. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang 30 bệnh nhân chẩn đoán xác định gãy kết hợp xương hàm trên và xương hàm dưới, điều trị tại Khoa Phẫu thuật Hàm mặt và tạo hình, Bệnh viện Quân y 103, từ tháng 01/2018 đến tháng 5/2020. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 29,16 ± 11,24 tuổi. Tỉ lệ bệnh nhân nam/nữ = 14/1. Nguyên nhân chủ yếu gãy kết hợp xương hàm trên, xương hàm dưới do tai nạn giao thông chiếm (90,0%). Triệu chứng lâm sàng thường gặp: sưng nề, bầm tím và mất liên tục xương (100%), cử động bất thường xương hàm trên, xương hàm dưới (96,7%), khớp cắn sai (93,3%), hạn chế há miệng (90,0%), biến dạng gò má, hàm trên, hàm dưới (80,0%). 56,7% gãy xương hàm dưới kết hợp gãy phức hợp xương gò má, hàm trên 1 bên, 30,0% gãy xương hàm dưới kết hợp gãy xương hàm trên Le Fort I, II và I + II, 3,3% gãy xương hàm dưới kết hợp gãy xương hàm trên Le Fort I + II + III, 10,0% gãy xương hàm dưới kết hợp các hình thái gãy xương hàm trên khác. Chụp cắt lớp vi tính giúp phát hiện chính xác, đầy đủ các tổn thương vùng hàm mặt hơn so với chụp X quang thường qui.

Tài liệu tham khảo

1. Đặng Triệu Hưng (2013), Bệnh lí và Phẫu thuật hàm mặt, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, tập 1, tr. 9-59.

2. Ngô Thị Thu Hà (2004-2005), Nhận xét đặc điểm lâm sàng, X-quang và đánh giá kết quả điều trị gãy xương hàm trên Lefort II, III tại Bệnh viện Việt Nam - Cu Ba Hà Nội, Luận văn thạc sĩ y học, tr. 54-56.

3. Đào Bích Thuỷ (2014 ), Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật gãy phức hợp hai hàm tại Bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương Hà Nội, Luận văn bác sĩ chuyên khoa cấp 2, Bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương Hà Nội.

4. Trần Văn Trường, Trương Mạnh Dũng (2001), “Tình hình chấn thương hàm mặt tại Viện Răng hàm - Hà Nội trong 11 năm (1988-1998) trên 2.149 trường hợp” , Tạp chí Y học Việt Nam, số 10, tập 264: 71-80.

7. Nguyễn Công Suất (2008), Nhận xét đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị gãy phức hợp xương hàm dưới và xương hàm trên tại Bệnh viện Việt Nam - Cu Ba Hà Nội (2006-2008), Luận văn bác sĩ chuyên khoa cấp 2, Trường Đại học Y Hà Nội.

8. Nguyễn Quốc Đức (2002), Gãy xương hàm trên các hình thái lâm sàng và kết quả điều trị của phương pháp khâu kết hợp xương, Luận văn tiến sĩ y học, Hà Nội.

9. Phạm Dương Châu (2012), “Đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị gãy phức hợp xương hàm trên và hàm dưới”, Tạp chí Y học Việt Nam, (7), pp. 31-33.

5. Phillipo L.C et al (2011), “Etiologycal spectrum injury characteristrics and treatment outcomeof maxillofacial injuries in a Tazanian teaching hospital”, Journal of Trauma Management & Outcomes, 5,7.

6. Zrounba H et al (2014), “Epidermiology and treatment outcome of surgically treated mandibular condyle fractures. A five years retrospective study”, Journal of Cranio-Maxillofacial Surgery, 42, pp. 879-884.

Đã Xuất bản

17.08.2026

Cách trích dẫn

TS. Lê Mạnh Cường. (2026). NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, X QUANG GÃY KẾT HỢP XƯƠNG HÀM TRÊN VÀ XƯƠNG HÀM DƯỚI TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103. Tạp Chí Y học Quân sự, (349), 21–23. Truy vấn từ https://yhqs.vn/tcyhqs/article/view/1328

Số

Chuyên mục

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
 Ngày xuất bản      17-08-2026

Các bài báo tương tự

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 > >> 

Bạn cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.