KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KẾT XƯƠNG NẸP KHÓA ĐIỀU TRỊ GÃY ĐẦU DƯỚI XƯƠNG ĐÙI TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 17
DOI:
https://doi.org/10.59459/1859-1655/JMM.869Từ khóa:
Gãy đầu dưới xương đùi, nẹp khóaTóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị gãy đầu dưới xương đùi bằng phẫu thuật kết xương nẹp khóa, tại Bệnh viện Quân y 17.
Đối tượng và phương pháp: Mô tả cắt ngang, hồi cứu và tiến cứu theo dõi dọc, không nhóm chứng trên 49 bệnh nhân gãy đầu dưới xương đùi, được phẫu thuật kết xương nẹp khóa, tại Bệnh viện Quân y 17, từ tháng 01/2022 đến tháng 3/2024.
Kết quả: Tầm vận động khớp gối trung bình sau phẫu thuật 3 tháng đạt 91,71o ± 14,39o, sau phẫu thuật 6 tháng đạt 112,55o ± 16,22o. Tỉ lệ liền xương ở thời điểm sau phẫu thuật 3 tháng và 6 tháng lần lượt là 53,8% và 94,9%. Điểm trung bình Neer ở thời điểm sau phẫu thuật 6 tháng là 84,64 ± 9,99 điểm. 86,8% bệnh nhân có kết quả rất tốt và tốt, 10,6% bệnh nhân đạt kết quả khá, chỉ có 1 bệnh nhân đạt kết quả xấu (2,6%).
Kết luận: Điều trị gãy đầu dưới xương đùi bằng phẫu thuật kết xương nẹp khóa cho kết quả tốt. Nẹp vít khóa cố định ổ gãy vững chắc giúp bệnh nhân sớm phục hồi chức năng khớp gối.
Tài liệu tham khảo
1. Trần Đình Chiến và cộng sự (2014), “Đặc điểm tổn thương giải phẫu và kết quả điều trị gãy đầu dưới xương đùi bằng kết hợp xương bên trong tại Bệnh viện Quân y 103”, Tạp chí Y dược học Quân sự, số 4, tr. 1-7.
2. Padha, Kanav, et al. (2016), “Distal Femur Fractures and its Treatment with Distal Femur Locking Plate”, J. K. Science. 18(2), pp. 76-80.
3. Meinberg E.G, et al. (2018), “Fracture and dislocation classification compendium-2018”, Journal of Orthopaedic Trauma, 32, pp. S1-S10.
4. Charles S Neer II, S Ashby Grantham, Marvin L Shelton (1967), “Supracondylar fracture of the adult femur: a study of one hundred and ten cases”, JBJS. 49(4), pp. 591-613.
5. Nguyễn Quốc Hải (2014), Đánh giá kết quả điều trị gãy đầu dưới xương đùi bằng nẹp và vít, Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y dược Huế, Huế.
6. Crowley D.J, Kanakaris N.K, Giannoudis P.V (2007), “Debridement and wound closure of open fractures: the impact of the time factor on infection rates”, Injury, 38(8), pp. 879-889.
7. Krettek C.H, Helfet D.L (2003), “Fractures of the distal femur”, Browner: Skeletal Trauma: Basic Science, Management and Reconstruction.
8. Nguyễn Văn Hỷ (2006), “Đánh giá kết quả điều trị gãy liên lồi cầu xương đùi bằng phẫu thuật kết hợp xương bên trong”, Tạp chí Ngoại khoa (Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ XII, Hội Ngoại khoa Việt Nam), tập 56(5), tr. 6-12.
9. Nguyễn Chí Khôi (2014), Điều trị gãy đầu dưới xương đùi bằng nẹp vít khóa với kĩ thuật ít xâm lấn, Luận văn bác sĩ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch.
10. Laubenthal Keyron N, Gary L Smidt, Donald B Kettelkamp (1972), “A quantitative analysis of knee motion during activities of daily living”, Physical therapy, 52(1), pp. 34-43.
