ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG TOÀN PHẦN KHÔNG XI MĂNG ĐIỀU TRỊ HOẠI TỬ VÔ KHUẨN CHỎM XƯƠNG ĐÙI
Từ khóa:
Thay khớp háng toàn phần không xi măng, hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi.Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp háng toàn phần không xi măng trên bệnh nhân hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi.Đối tượng và phương pháp: Thống kê, mô tả kết hợp theo dõi dọc 38 bệnh nhân (với 68 khớp) hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi độ IV, V, VI (theo phân loại của Steinberg), có chỉ định điều trị phẫu thuật thay khớp háng toàn phần không xi măng, tại Bệnh viện Bưu điện Hà Nội, từ tháng 1/2013-12/2015.
Kết quả: Bệnh nhân tuổi trung bình 48,09 ± 6,02 tuổi. Nam giới (71,0%) mắc bệnh nhiều hơn nữ giới (29,0%). 76,3% bệnh nhân hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi không rõ yếu tố nguy cơ, 23,7% bệnh nhân hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi do nghiện rượu, sử dụng steroid và yếu tố khác. Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi giai đoạn IV là 26,5%, giai đoạn V là 35,3%, giai đoạn VI là 38,2%. Kết quả sau phẫu thuật 3 tháng: 98,5% khớp háng nhân tạo đạt kết quả rất tốt và tốt, 1,5% khớp háng nhân tạo đạt kết quả trung bình. Kết quả sau phẫu thuật 2 năm: 95,6% khớp háng nhân tạo đạt kết quả rất tốt và tốt, 4,4% khớp háng nhân tạo đạt kết quả trung bình, không bệnh nhân nào kết quả kém. Điểm Harris trung bình trước phẫu thuật là 52,68 ± 7,62 điểm (kém) và sau phẫu thuật là 91,15 ± 3,66 điểm (rất tốt và tốt). Hình ảnh X quang sau phẫu thuật: 100% khớp háng nhân tạo có ổ cối chặt và 94,1% khớp háng nhân tạo có chuôi khớp chặt, 4/68 khớp háng nhân tạo (5,9%) chuôi khớp lún (trong đó có 3 chuôi lún 2 mm, 1 chuôi lún 4 mm), không có khớp nào lỏng hoặc gãy, nứt vỡ tại ổ cối và chuôi khớp.
Tài liệu tham khảo
1. Phạm Thiện Điều, Nguyễn Văn Ngẫu, Trần Đình Chiến (2015), “Đánh giá kết quả thay khớp háng toàn phần không xi măng tại bệnh viện Đại học Y Thái bình”, Tạp chí Y dược học quân sự, số chuyên đề tháng 11/2015, tr.105-109.
2. Lê Văn Nam, Trần Trung Dũng (2017), “Nghiên cứu kết quả phẫu thuật thay khớp háng toàn phần không xi măng do hoại tử chỏm xương đùi, tại Bệnh viện Xanh Pôn”, Tạp chí Chấn thương chỉnh hình Việt Nam, tr. 321-324.
3. Mai Đắc Việt, Lưu Hồng Hải, Lê Hồng Hải, Nguyễn Quốc Dũng (2015), “Đánh giá kết quả thay khớp háng toàn phần không xi măng ở bệnh nhân ≤ 50 tuổi bị hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi”, Tạp chí Y dược học quân sự, số chuyên đề tháng 11/2015, tr. 96-104.
4. Brinker M.R, Rosenberg A.G, Kull L, Galante J.O (1994), “Primary total hip arthroplasty using nocemented porous - coated femoral components in patients with osteonecrosis of the femoral head”, J Arthroplasty, 9 (5), pp. 457-468.
5. Engh C.A, Bobyn J.D, Glassman A.H (1987), “Porous-coated hip replacement.The factors governing bone ingrowh, stress shielding and clinical results”, J Bone Joint Surg Br, Jan, 69 (1), pp. 45-55.
6. Piston R.W (1994), “Osteonecrosis of the femoral head treated with total hip arthroplasty with out ciment”, J. Bone Joint surg Am, 76, pp. 202-214.
7. Steffen R.T, Athanasou N.A, Gill H.S, Murray D.W (2010), “Avascular necrosis associated with fracture of femoral neck after hip resurfacing”, J Bone Joint Surg Br, 92-B, pp. 787-93.
