NGHIÊN CỨU RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở BỆNH NHÂN SAU ĐỘT QUỴ NHỒI MÁU NÃO BẰNG THANG ĐIỂM RÚT GỌN BECK

Các tác giả

  • BCKII. Nguyễn Văn Chính

Từ khóa:

Nhồi máu não, rối loạn trầm cảm.

Tóm tắt

Khảo sát tỉ lệ trầm cảm sau đột quỵ nhồi máu não và bước đầu tìm hiểu mối liên quan giữa trầm cảm với đặc điểm lâm sàng, hình ảnh tổn thương não ở 61 bệnh nhân sau đột quỵ nhồi máu não lần đầu; đánh giá rối loạn trầm cảm bằng thang điểm rút gọn của Beck trong 3 tháng. Kết quả: Có 22/61 bệnh nhân (36,17%) mắc trầm cảm với mức độ bệnh nhẹ 5/22 bệnh nhân (22,72%), trung bình 10/22 bệnh nhân (45,45%) và nặng 7/22 bệnh nhân (31,58%). Tỉ lệ mắc trầm cảm ở bệnh nhân sau nhồi máu não ở độ tuổi từ 60 trở lên: 41,67%, độ tuổi dưới 60: 15,38%; ở bệnh nhân nam giới: 36,11%, nữ giới: 36%; ở bệnh nhân lao động trí óc: 30%, lao động chân tay: 39,02%; bệnh nhân không kết hôn hoặc li hôn: 68,42%; có gia đình: 21,43%; bệnh nhân liệt chi: 61,82%, không liệt chi: 16,67%; ở bệnh nhân teo não: 69,23%, không teo não: 27,08%. Không thấy mối liên quan giữa trầm cảm với động mạch não tổn thương, kích thước - số lượng ổ nhồi máu.

Tài liệu tham khảo

1. Đặng Hoàng Anh (2009), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn tâm thần ở BN tai biến mạch máu não có tăng huyết áp”, Luận án tiến sĩ y học, Học viện Quân y.

2. Nguyễn Văn Chương (2008), "Nhồi máu não - thực hành lâm sàng thần kinh học", trong: Bệnh học thần kinh, tập 3, Nhà xuất bản Y học, tr. 44-73.

3. Đỗ Tư Duy, Trần Minh Thư (2015), Khảo sát tỉ lệ rối loạn TC và các yếu tố liên quan ở BN tai biến mạch máu não, Luận văn bác sĩ chuyên khoa II, tr. 43-44, 46-47.

4. Nguyễn Văn Thành, Vũ Anh Nhị (2009), “Nghiên cứu biến chứng sau đột quỵ NMN tại Khoa Nội Thần kinh, Bệnh viện Chợ Rẫy”, Tạp chí Y học thực hành, số 3, tr. 1.

5. Dương Minh Tâm (2015), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở BN sau NMN, Luận văn tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, tr. 61, 79, 81, 97, 118, 125.

6. WHO (1992), "Rối loạn khí sắc", trong: Phân loại bệnh học quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi, mô tả lâm sàng và nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 91-105.

7. Bhogal S.B, Speechley M et al (2004), Kesion Location and Poststroke Depression Systematic Review of the Methodological Limitations in the Literature, Copyright 2004 American Heart Association, Inc. Stroke do: 10.1161/01.STR. 0000117237.98749.26204; 35:794- 802, originally published onkine February 12, 2004, St.

8. Hackett L.M et al (2005), Frequency of Depression After Stroke. A Systematic Review of Observational Studies, American heart Association, Inc, Stroke; 36: 1330.

9. Robinson R.G, Starstein S.E (1990), Mood disordereerrs in stroke patients, importance of location of lesion, Brain, (107), pp 81-93.

10. Wongwandee M, Tangwongchai S, Phanthumchinda K (2012), “Relationship between post stroke depression and ischemic lesion location”, J Med Asoc Thai, 95 (3): 330-6.

Đã Xuất bản

28.08.2026

Cách trích dẫn

BCKII. Nguyễn Văn Chính. (2026). NGHIÊN CỨU RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở BỆNH NHÂN SAU ĐỘT QUỴ NHỒI MÁU NÃO BẰNG THANG ĐIỂM RÚT GỌN BECK. Tạp Chí Y học Quân sự, (336), 48–51. Truy vấn từ https://yhqs.vn/tcyhqs/article/view/1422
 Ngày xuất bản      28-08-2026

Các bài báo tương tự

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 > >> 

Bạn cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.