NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MỐI LIÊN QUAN GIỮA MỨC ĐỘ TRẦM CẢM VÀ VỊ TRÍ TỔN THƯƠNG TRÊN MRI Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO Ổ KHUYẾT
Từ khóa:
MRI, nhồi máu ổ khuyếtTóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, tìm mối liên quan giữa mức độ trầm cảm và vị trí ổ tổn thương trên hình ảnh MRI ở bệnh nhân nhồi máu não ổ khuyết trên lều tiểu não. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 90 bệnh nhân nhồi máu não ổ khuyết có rối loạn trầm cảm, điều trị tại Khoa Thần kinh, Bệnh viện Việt Tiệp, từ tháng 3/2013-5/2015. Kết quả: Thời điểm hay gặp nhồi máu não ổ khuyết từ 6 đến trước 12 giờ (53,33%). Đa số bệnh nhân liệt vận động nửa người (85,56%) và rối loạn ngôn ngữ (55,56%). Hội chứng liệt vận động nửa thân đơn độc chiếm tỉ lệ cao nhất (60%), các hội chứng khác chiếm tỉ lệ ít hơn. Triệu chứng trầm cảm nhẹ và vừa chiếm tỉ lệ lần lượt là 43,33% và 35,56%, trầm cảm nặng chiếm tỉ lệ 21,11%. Vị trí ổ khuyết ở bao trong, nhân bèo, thùy thái dương chưa thấy ảnh hưởng đến các mức độ trầm cảm trong nhồi máu não ổ khuyết. Tổn thương thùy trán, nguy cơ trầm cảm nặng cao gấp 7,31 lần so với trầm cảm nhẹ và gấp 5,81 lần trầm cảm vừa. Tổn thương bán cầu não trái, trầm cảm nặng cao gấp 4,88 lần so với trầm cảm nhẹ. Kết luận: Chưa thấy rõ sự liên quan giữa mức độ trầm cảm và hình ảnh MRI sọ não ở bệnh nhân nhồi máu não ổ khuyết.
Tài liệu tham khảo
1. Dương Minh Tâm (2011), “Đặc điểm lâm sàng của trầm cảm sau nhồi máu não”, Tạp chí Y học thực hành, số 9 (783), tr. 50-53.
2. Nguyễn Thành Long (2011), Khảo sát tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến trầm cảm sau tai biến mạch máu não, Luận văn bác sĩ chuyên khoa II, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Minh Hiện và CS, “Đặc điểm đột quỵ nhồi máu não tại bệnh viện Quân y 103”, Tạp chí Y dược học quân sự, Học viện Quân y, tập 41, 11/2016, tr. 56-62.
4. Lê Văn Thính (2003), Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố nguy cơ của nhồi máu não ổ khuyết, Hội thảo khoa học kỷ niệm 47 năm thành lập chuyên khoa Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai.
5. Nguyễn Văn Oanh (2012), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cộng hưởng từ não và nguyên nhân nhồi máu não ổ khuyết, Luận văn bác sĩ shuyên khoa II, Đại học Y Hà Nội.
6. Caeiro L, Ferro J.M, Santos C.O, Figueira M.L, (2006), “Depression in acute stroke”, Journal of Psychiatry & Neuroscience: JPN, Ottawa, Vol 31, Iss 6, pp. 377-384.
7. Carota A, Berney A, Aybek S et al (2005), “A prospective study of predictors of post-stroke depression”, Neurology, 64, pp. 428-433.
8. Hackett M.L, Yapa C, Parag V et al (2005), “Frequency of depression after stroke: a systematic review of observational studies”, Stroke, 36, pp. 1330-40.
9. Herrmann M, Bartels C (1995), “Poststroke depression: Is the pathoanalomic correlate for depression in the postacute stage of stroke?”, Stroke, 26, pp. 850-856.
10. Liang-Po et al (2005), “Depression Symptoms Follwing Ischemic Stroke: A Study of 207 Patients”, Acta Neurol Taiwan, 14, pp. 187-190.
