ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẶT NỘI KHÍ QUẢN KHÓ BẰNG ĐÈN SOI THANH QUẢN CÓ MÀN HÌNH DƯỚI GÂY MÊ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 17
DOI:
https://doi.org/10.59459/1859-1655/JMM.833Từ khóa:
Đặt nội khí quản khó, đèn soi thanh quản có màn hình, đèn soi thanh quản trực tiếpTóm tắt
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả đặt nội khí quản khó bằng đèn soi thanh quản có màn hình dưới gây mê và ghi nhận các tai biến, biến chứng liên quan đến kỹ thuật.
Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu có so sánh, 70 người bệnh (NB) được tiên lượng đặt nội khí quản khó có chỉ định gây mê toàn thân để phẫu thuật tại Bệnh viện Quân Y 17 và chia ngẫu nhiên thành hai nhóm: nhóm C (dùng đèn có màn hình) và nhóm M (dùng đèn Macintosh).
Kết quả: Tỷ lệ đặt nội khí quản thành công lần đầu ở nhóm C là 91,4% cao hơn nhóm M là 71,4% với sự khác biệt có ý nghĩa, p < 0,05. Thời gian đặt ống trung bình nhóm C là 26,46 ± 5,08 giây ngắn hơn so với nhóm M là 37,14 ± 8,30 giây với sự khác biệt có ý nghĩa, p < 0,05. Nhóm C cần can thiệp hỗ trợ thấp hơn so với nhóm M với ngữa cổ (28,6% và 47,7%), ấn sụn nhẫn (22,9% và 48,6%) bougie dẫn đường (0% và 14,3%). Tỷ lệ NB gặp các tai biến, biến chứng nhóm C thấp hơn nhóm M như tổn thương (8,6% và 22,9%), đau họng (22,9% và 48,6%), khàn tiếng (20% và 45,7%), sự khác biệt có ý nghĩa, p < 0,05.
Kết luận: Đèn soi thanh quản có màn hình giúp tăng tỷ lệ thành công, rút ngắn thời gian đặt ống, giảm nhu cầu hỗ trợ và biến chứng khi đặt nội khí quản khó.
Từ khoá: Gây mê toàn thân, đặt nội khí quản khó, đèn soi thanh quản có màn hình, đèn soi thanh quản trực tiếp.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Phú Vân (2018), Nghiên cứu các yếu tố tiên lượng và một số phương pháp xử trí đặt nội khí quản khó trên bệnh nhân có bệnh đường thở trong phẫu thuật tai mũi họng, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
2. Nguyễn Thị Hương (2016), Đánh giá hiệu quả đặt nội khí quản thường quy có video hỗ trợ cho gây mê ở bệnh nhân người lớn, Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
3. Nguyễn Thụ và cộng sự (2014), Bài giảng Gây mê hồi sức, tập I, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
4. Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Hữu Tú (2014), “Đặt nội khí quản trong gây mê hồi sức, đặt nội khí quản khó”, Gây mê hồi sức, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
5. Nguyễn Toàn Thắng (2003), Nghiên cứu các yếu tố tiên lượng đặt nội khí quản khó trong gây mê, Luận văn tốt nghiệp nội trú gây mê hồi sức, Trường Đại học Y Hà Nội.
6. Ankitha S, Shahajannada H (2022), “Comparative effectiveness of the video laryngoscope versus direct laryngoscopy in the predicted difficult airway”, https://innovative-journal.in/index.php/ijmhs/issue/view/702.
7. Meena Kumari, Aastha, Anju Kumari, et al. (2022), “Comparative Evaluation of C-MAC Videolaryngoscope with Macintosh Direct Laryngoscope in Patients with Normal Airway Predictors”, Anesthesia Essays and Researches, (3), (16), 326.
8. Michael F Aziz, Dawn Dillman, Rongwei Fu (2012), “Comparative effectiveness of the C-MAC video laryngoscope versus direct laryngoscopy in the setting of the predicted difficult airway”, Anesthesiology, (3), (116), 629-636.
9. Trần Duy Thịnh (2024), “Đánh giá hiệu quả đặt nội khí quản bằng đèn soi thanh quản video so với đèn soi thanh quản trực tiếp cho bệnh nhân phẫu thuật có tiên lượng đặt nội khí quản khó”, Hội nghị khoa học Gây mê hồi sức toàn quốc 2024, Đà Nẵng, 27-29/9/2024.
10. Dương Anh Khoa (2022), Nghiên cứu hiệu quả đặt nội khí quản có video hỗ trợ cho bệnh nhân phẫu thuật cột sống cổ, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
11. Sok Sethy (2019), So sánh hiệu quả của đèn soi thanh quản video và đèn soi thanh quản Macintosh ở bệnh nhân có dự đoán đặt nội khí quản khó, Luận văn cao học, Trường Đại học Y Hà Nội.
