ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GÂY MÊ MẶT NẠ THANH QUẢN PROSEAL TRONG NỘI SOI NGƯỢC DÒNG TÁN SỎI NIỆU QUẢN TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 17

Các tác giả

  • Cao Quyền Trần Bệnh viện quân y 17
  • Trần Phước Sung Bệnh viện Quân y 17
  • Hoàng Lê Phi Bách Trường Đại học Kĩ thuật Y-Dược Đà Nẵng
  • Bùi Thị Yến Trường Đại học Kĩ thuật Y-Dược Đà Nẵng

DOI:

https://doi.org/10.59459/1859-1655/JMM.850

Từ khóa:

Mặt nạ thanh quản Proseal, nội soi ngược dòng tán sỏi niệu quản, gây mê

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả gây mê mặt nạ thanh quản Proseal trong nội soi ngược dòng tán sỏi niệu quản và khảo sát các tác dụng không mong muốn của kĩ thuật này.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu, không nhóm chứng trên 30 bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, có chỉ định gây mê để nội soi ngược dòng tán sỏi niệu quản tại Khoa Gây mê hồi sức, Bệnh viện Quân y 17, từ tháng 01/2020 đến hết tháng 9/2020.
Kết quả: Tỉ lệ đặt mặt nạ thanh quản thành công đạt 100%, với 63,3% đặt thành công ngay lần đầu, thời gian đặt trung bình 39,30 ± 2,73 giây. Các thông số huyết động (mạch, huyết áp) và hô hấp (SpO2, EtCO2, áp lực đường thở) ổn định trong giới hạn bình thường. Không ghi nhận tác dụng không mong muốn như trào ngược, hít sặc, đau họng, hay khàn tiếng trong và sau phẫu thuật.
Kết luận: Gây mê mặt nạ thanh quản Proseal là phương pháp gây mê an toàn, hiệu quả, ít xâm lấn, phù hợp cho nội soi ngược dòng tán sỏi niệu quản.

Tài liệu tham khảo

1. Trần Lê Linh Phương (2008), Điều trị sỏi niệu bằng phương pháp ít xâm lấn, Nhà xuất bản Y học, Thành phố Hồ Chí Minh, 2008.

2. Tạ Đức Luận (2015), Đánh giá hiệu quả và an toàn của gây mê Propofol kiểm soát nồng độ đích cho nội soi tán SNQ ngược dòng ở BN ngoại trú, Luận án tiến sĩ y học, Viện Nghiên cứu Khoa học Y dược lâm sàng 108, 2015.

3. American Society of Anesthesiologists (2020), Statement on ASA Physical Status Classification System, Schaumburg (IL): ASA.

4. Mallampati S.R, Gatt S.P, Gugino L.D, Desai S.P, Waraksa B, Freiberger D, Liu P.L (1985), “A clinical sign to predict difficult tracheal intubation: A prospective study”, Canadian Anaesthetists’ Society Journal, 32 (4), 429-434.

5. Collins S.L, Moore R.A, McQuay H.J (1997), “The visual analogue pain intensity scale: What is moderate pain in millimetres?”, Pain, 72 (1-2), 95-97.

6. Gan T.J, Belani K.G, Bergese S, et al. (2020), “Fourth consensus guidelines for the management of postoperative nausea and vomiting”, Anesth Analg, 2020; 131 (2): 411-48, doi:10.1213/ANE.0000000000004833.

7. Aldrete J.A (1998), “Modifications to the postanesthesia score for use in ambulatory surgery”, J Perianesth Nurs., 3, pp. 148-55.

8. Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Hoàng Đức và CS (2008), “Gây mê sử dụng mặt nạ thanh quản cải tiến Proseal cho can thiệp nội soi tiết niệu”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 2008; 12 (1): 258-61.

9. Nguyễn Văn Chinh, Lê Hữu Bình, Nguyễn Văn Chừng (2014), “So sánh hiệu quả mặt nạ thanh quản Proseal và nội khí quản trong gây mê phẫu thuật cấp cứu”, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 2014;18:41-9.

10. Phạm Văn Hùng, Nguyễn Anh Tuấn, Phan Tôn Ngọc Vũ (2012), “Đánh giá hiệu quả và an toàn của sử dụng mặt nạ thanh quản Proseal với gây mê tĩnh mạch kiểm soát nồng độ đích Propofol cho phẫu thuật cắt hạch thần kinh giao cảm ngực nội soi”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 2012; 16(2):84-9.

11. Nguyễn Thành (2008), “Đánh giá hiệu quả mặt nạ thanh quản Proseal trong gây mê - phẫu thuật nội soi cắt túi mật”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 2008; 12(1):35-41.

12. Zhang Y, Li H, Wang Q, et al. (2024), “Comparison of anesthesia techniques in ureteroscopic lithotripsy with holmium laser for kidney stones: a computed tomography-guided study”, J Radiat Res Appl Sci, 2024;17(2):100547. doi:10.1016/j.jrras.2024.100547.

13. Agrawal S, Gupta R, Sharma A, et al. (2025), “Evaluation of insertion characteristics of LMA ProSeal and AmbuAuraGain in adult patients under controlled ventilation: a clinical study”, J Pharm Bioallied Sci, 2025; 17(3): 210-5. doi:10.4103/jpbs.jpbs_123_25.

Đã Xuất bản

06.01.2026

Cách trích dẫn

Trần, C. Q., Trần Phước Sung, Hoàng Lê Phi Bách, & Bùi Thị Yến. (2026). ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GÂY MÊ MẶT NẠ THANH QUẢN PROSEAL TRONG NỘI SOI NGƯỢC DÒNG TÁN SỎI NIỆU QUẢN TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 17. Tạp Chí Y học Quân sự, (364). https://doi.org/10.59459/1859-1655/JMM.850

Số

Chuyên mục

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
 Ngày nhận bài      12-09-2025

Các bài báo tương tự

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 > >> 

Bạn cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.