MÔ TẢ THỰC TRẠNG BỆNH NGHỀ NGHIỆP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG (CƠ SỞ KIM CHUNG) NĂM 2023
DOI:
https://doi.org/10.59459/1859-1655/JMM.570Từ khóa:
Nhân viên y tế, bệnh nghề nghiệp, yếu tố liên quanTóm tắt
Mục tiêu: Mô tả thực trạng bệnh nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan của nhân viên y tế tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương (cơ sở Kim Chung) năm 2023.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 293 nhân viên y tế đang công tác tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương (cơ sở Kim Chung), từ tháng 11/2023 đến tháng 10/2024. Chẩn đoán bệnh nghề nghiệp theo Thông tư số 15/2016/TT-BYT và bổ sung bởi Thông tư số 02/2023/TT-BYT của Bộ Y tế.
Kết quả: Tỉ lệ mắc bệnh nghề nghiệp ở nhân viên y tế nghiên cứu là 15,0% (trong đó, 2,0% mắc bệnh viêm gan vi-rút B nghề nghiệp và 13,0% mắc bệnh COVID-19 nghề nghiệp). Nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp ở điều dưỡng cao hơn so với bác sĩ, nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp ở kĩ thuật viên và công việc khác thấp hơn so với bác sĩ, khác biệt với p < 0,05. Chưa phát hiện mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa yếu tố tiếp xúc dịch tiết/máu của bệnh nhân, đã từng bị tổn thương do vật sắc nhọn, làm việc trên 8 giờ/ngày, thường xuyên làm thêm giờ, công việc chịu áp lực, cảm thấy gánh nặng công việc thường xuyên quá khả năng với tỉ lệ mắc bệnh nghề nghiệp (p > 0,05).
Kết luận: Cần tăng cường dự phòng, giám sát và khám phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ môn sức khỏe nghề nghiệp, Trường Đại học Y Hà Nội (2017), Vệ sinh an toàn lao động trong tại cơ sở khám bệnh chữa bệnh, Sức khỏe nghề nghiệp, Giáo trình đào tạo sau đại học. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội 2017.
2. Lê Minh Hạnh (2023), “Phòng chống bệnh nghề nghiệp trong NVYT”, Cổng thông tin điện tử - Bộ Y tế, Cập nhật ngày 15/6/2023. https://moh.gov.vn/web/phong-chong-benh-nghe-nghiep/thong-tin-hoat-dong/-/asset_publisher/xjpQsFUZRw4q/content/phong-chong-benh-nghe-nghiep-trong-nhan-vien-y-te?inheritRedirect=false.
3. Prüss-Ustün A, Rapiti E, Hutin Y (2005), “Estimation of the global burden of disease attributable to contaminated sharps injuries among health-care workers”, Am J Ind Med., 2005; 48 (6): 482-490. doi:10.1002/ajim.20230.
4. Bùi Thị Lệ Uyên, Nguyễn Nhân Nghĩa, Trần Thị Ngọc Lan (2023), “Thực trạng bệnh nghề nghiệp của NVYT thành phố Cần Thơ năm 2015-2016”, Tạp chí Y học dự phòng, Cập nhật ngày 22/5/2023. http://www.tapchiyhocduphong.vn/tap-chi-y-hoc-du-phong/2016/11/thuc-trang-benh-nghe-nghiep-cua-nhan-vien-y-te-thanh-pho-can-tho-nam-2015-2016-o81E2048D.html#.
5. Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường (2017), “Tổng quan: Điều kiện làm việc của NVYT”, http://nioeh.org.vn/vi/tam-ly-lao-dong-va-ecgonom/tong-quan-dieu-kien-lam-viec-cua-nhan-vien-y-te.html.
6. Bộ Y tế (2016), Quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội, Thông tư số 15/2016/TT-BYT ngày 15/5/2016.
7. Bộ Y tế (2023), Sửa đổi một số điều của thông tư 15/2016/TT-BYT ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Bộ Y tế quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội, Thông tư số 02/2023/TT-BYT ngày 09/02/2023.
8. Đỗ D.C., Đoàn T.T., Đỗ V.T., Nguyễn Q.H., Trương T.P., Đỗ T.N., Bùi M.T., & Nông, M.V. (2021), “Tỉ lệ nhiễm vi rút viêm gan B ở NVYT và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2019”, Tạp chí Truyền nhiễm Việt Nam, 1 (33), 17-22. https://doi.org/10.59873/vjid.v1i33.81.
9. Ruotsalainen J.H, Verbeek J.H, Mariné A, Serra C (2015), “Preventing occupational stress in healthcare workers”, Cochrane Work Group, ed. Cochrane Database Syst Rev, 2015; 2015 (4). doi:10.1002/14651858.CD002892.pub5.
10. Barker L.M, Nussbaum M.A (2011), “Fatigue, performance and the work environment: a survey of registered nurses”, J Adv Nurs., 2011; 67 (6): 1370-1382. doi:10.1111/j.1365-2648.2010.05597.x.
11. National Institute for Occupational Safety and Health (2023), Healthcare Workers: Work Stress & Mental Health, January 3, 2023. https://www.cc.gov/niosh/topics/healthcare/workstress.html.
