ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÔ CẢM CỦA GÂY MÊ TĨNH MẠCH BẰNG PROPOFOL KẾT HỢP FENTANYL TRONG NỘI SOI ĐƯỜNG TIÊU HÓA
Từ khóa:
Gây mê bằng propofol và fentanyl, nội soi gây mê.Tóm tắt
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả có phân tích 108 bệnh nhân từ 16-80 tuổi, có chỉ định, được nội soi dạ dày, đại tràng dưới gây mê tĩnh mạch bằng propofol và fentanyl tại Khoa Nội tiêu hóa, Bệnh viện Quân y 105, từ tháng 6-9/2017, kết quả: Thời gian khởi mê từ trung bình 28 ± 4,56 giây. Thời gian gây mê trung bình 7,23 ± 5,33 phút. Thời gian thoát mê trung bình 6,02 ± 2,43 phút. Điểm MOAA/S tại thời điểm T1 trung bình 0,02 ± 2,3. Độ mê lâm sàng tại thời điểm T1: 96,30% bệnh nhân PRST 0 điểm, 3,7% bệnh nhân đạt PRST 1 điểm; thời điểm T2: 97,20% bệnh nhân PRST 0 điểm, 4,6% bệnh nhân PRST 1 điểm. Không có bệnh nhân nào nhịp thở dưới 10 lần/phút và tụt huyết áp tâm thu > 20%. Nhịp tim trung bình tại các thời điểm đều trên 77 chu kì/phút, SpO2 trung bình tại các thời điểm đều trên 95%. Tác dụng không mong muốn: kích ứng da: 1 BN (0,85%); đau chỗ tiêm: 21 BN (19,44%); giật chi: 2 BN (1,8%). Kết luận: Gây mê tĩnh mạch bằng propofol và fentanyl bảo đảm vô cảm tốt cho nội soi dạ dày và đại tràng và ít ảnh hưởng lên tuần hoàn, hô hấp, ít tác dụng không mong muốn.
Tài liệu tham khảo
1. Đỗ Thị Na (1998), Đánh giá tác dụng của thuốc mê propofol trong gây mê tĩnh mạch cho thủ thuật nội soi đại tràng toàn bộ, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội.
2. Tào Ngọc Sơn (2006), Đánh giá tác dụng an thần bằng propofol do bệnh nhân tự điều khiển trong thủ thuật nội soi đại tràng, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội.
3. Nguyễn Công Chính (2012), So sánh phương pháp gây mê propofol bằng TCI với BTĐ truyền liên tục trong nội soi đường tiêu hóa, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội.
4. Nguyễn Thụ, Đào Văn Phan, Công Quyết Thắng (1996), Thuốc sử dụng trong gây mê, Nhà xuất bản Y học, tr. 65-66, 150-159.
5. Gunter N.S, Petra B, Thomas S et al (2004), “Comparative evaluation of the Datex - Ohmeda S/5 Entropy module and the BISpectral index monitor during propofol - remifetanyl anesthesia”, Anesthesiology, 101: 1293-90.
6. Evans J.M and Davies W.L (1984), “Monitoring anaesthesia”, Clin Anesth, 2, pp: 243-262.
Đã Xuất bản
Cách trích dẫn
Số
Chuyên mục
Ngày xuất bản 21-08-2026
