KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH LIÊN QUAN ĐẾN TẬT KHÚC XẠ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI MỘT SỐ ĐƠN VỊ THUỘC TỔNG CÔNG TY VIỄN THÔNG VIETTEL NĂM 2024
DOI:
https://doi.org/10.59459/1859-1655/JMM.530Từ khóa:
Tật khúc xạ, kiến thức, thái độ, thực hànhTóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành liên quan đến tật khúc xạ của người lao động tại một số đơn vị thuộc Tổng Công ty Viễn thông Viettel, từ tháng 01/2024 đến tháng 8/2024.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 304 người lao động tại một số công ty thuộc Tổng Công ty Viễn thông Viettel.
Kết quả: 97,7% người lao động có trình độ học vấn đại học/sau đại học và 99,7% người lao động thường xuyên làm việc với màn hình máy tính. Loại tật khúc xạ gặp nhiều nhất là cận thị (13,5%), tiếp đến là loạn thị (5,9%); viễn thị và các tật khúc xạ khác đều chiếm 1,3%. 73,0% người lao động cho rằng tiếp xúc yếu tố bất lợi mức độ thấp không ảnh hưởng đến sức khỏe mắt là sai. 18,1% người lao động cho rằng sau khi nghỉ ngơi các tật khúc xạ sẽ tự khỏi. 27,0% người lao động cho rằng việc cải thiện điều kiện lao động, thời gian lao động là rất cần thiết. 52,3% người lao động cho rằng có yếu tố độc hại tại nơi làm việc. 74,7% người lao động cho biết họ được phổ biến về nguy cơ, tác hại của các yếu tố độc hại. 95,7% người lao động cho rằng nên thay thế hoặc đề nghị thay thế khi công cụ lao động không phù hợp.
Kết luận: Người lao động có kiến thức, thái độ và thực hành tốt. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số nhận thức sai lệch về tật khúc xạ. Do đó, người sử dụng lao động cần chú trọng hơn đến việc tổ chức các chương trình tập huấn chuyên sâu về phòng, ngừa bệnh tật đặc biệt là về tật khúc xạ cho người lao động.
Tài liệu tham khảo
1. Čiumbaraitė R, Liutkevičienė R, “Refractive errors characteristic of the patients at the Children’s Ophthalmology Outpatient Department of Kauno klinikos Hospital (Lithuanian University of Health Sciences) from 1 January 2012 to 31 December 2012”, Acta Medica Litu, 24(2): pp. 83-92, doi:10.6001/actamedica.v24i2.3488, 2017.
2. Thực trạng cận thị ở Việt Nam, thống kê tỉ lệ năm 2023, https://mathanoi2.vn/kien-thuc/thuc-trang-can-thi-o-viet-nam.html.
3. Barr J.T, Rah M.J, Meyers W., Legerton J., “Recovery of refractive error after corneal refractive therapy”, Eye Contact Lens, 30 (4): pp. 247-251, 263-264, doi:10.1097/01.icl.0000140234.85617.88, 2004.
4. Cortinez M.F., Chiappe J.P., Iribarren R., “Prevalence of refractive errors in a population of office-workers in Buenos Aires, Argentina”, Ophthalmic Epidemiol, 15(1): pp. 10-16, doi:10.1080/09286580701755560, 2008.
5. Prevalence and risk factors for refractive errors in adult Chinese in Singapore, IOVS|ARVO Journals, https://iovs.arvojournals.org/article.
aspx?articleid=2162611.
6. Xu T., Wang B., Liu H. et al, “Prevalence and causes of vision loss in China from 1990-2019: findings from the Global Burden of Disease Study 2019”, Lancet Public Health, 5 (12): e682-e691, doi:10.1016/S2468-2667(20)30254-1, 2020
7. Read S.A., Collins M.J., Carney L.G., “A review of astigmatism and its possible genesis”, Clin Exp Optom, 90 (1): pp. 5-19, doi:10.1111/j.1444-0938.2007.00112, 2007.
8. Flitcroft D.I., “Emmetropisation and the aetiology of refractive errors”, Eye Lond Engl, 28 (2): pp. 169-179, doi:10.1038/eye.2013.276, 2014.
9. Quy định việc bồi dưỡng bằng hiện vật đối với NLĐ làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại, Thông tư số 24/2022/TT-BLĐTBXH, ngày 30/11/2022.
Đã Xuất bản
Cách trích dẫn
Số
Chuyên mục
Chấp nhận đăng 17-10-2024
